Hôm nay, ngày

Bài thơ: Sang thu

( Ngày 26-08-2013 )

Lời tựa:

          " Sang thu" của Hữu Thỉnh vinh dự được chọn vào SGK  môn Ngữ Văn lớp 9 kỳ 2. Đây  là bài thơ đã từng được chọn làm đề thi  trong các kỳ thi Tuyển sinh vào lớp 10, thi chọn HSG của Tỉnh Vĩnh Phúc và nhiều tỉnh, thành khác. Việc  một bài thơ được chọn vào SGK là sự khẳng định giá trị vĩnh hằng của thi phẩm, khẳng định đó sẽ là bài thơ đi cùng năm tháng. Đặc biệt khi tác phẩm đó là của một người con quê hương Vĩnh Phúc được tuyển chọn vào chương trình sẽ dấy lên trong các em học sinh tỉnh nhà niềm tự hào, sự trân trọng với bài thơ nói riêng, nhà thơ nói chung; khơi dậy trong các em những tiềm năng sáng tác đang còn ngủ yên. Tuy không sinh ra từ mảnh đất Vĩnh Phúc, nhưng với tình yêu bài thơ, sự quý trọng  nhà thơ Hữu Thỉnh, tôi xin được chia sẻ những cảm nhận của mình về bài thơ “ Sang thu” của thi nhân. Rất mong nhận được đóng góp, chia sẻ của quý thầy,cô và các em học sinh có chung tình yêu với bài thơ này.

                 Viết về mùa thu là đề tài lớn trong thơ ca. Tuy  nhiên viết về giây phút linh diệu, khoảnh khắc giao mùa giữa hạ sang thu có lẽ hiếm có thi nhân nào viết hay được. Là người yêu mến và gắn bó với mảnh đất quê hương, mảnh đất huyện Tam Dương- tỉnh Vĩnh Phúc, bằng tấm lòng nhạy cảm, Hữu Thỉnh đã ghi lại cảm nhận tinh tế về giây phút đất trời “ Sang thu”, đồng thời gửi gắm những chiêm nghiệm, triết lý sâu sắc về cuộc đời.

            Tín hiệu đầu tiên cho biết thu sang là “ hương ổi”, đây là hương thơm của ổi chín một thứ quả quê, thứ ổi nhỏ chín mùi thơm ngọt ngào, quyến rũ, rất quen thuộc ở làng quê trung du Vĩnh Phúc. Từ “ phả” là một động từ, nó diễn tả về sự chuyển động của những làn gió thu. Đồng thời nó còn miêu tả sự khuyếch tán, hòa quyện của hương ổi chín trong không gian của mùa thu.Vậy là không gian mùa thu vốn trong lành, yên ả giờ thấm đẫm hương sắc. Rất  đáng tiếc , có một số em  học sinh  hiểu đây là mùi hương của  hoa ổi, một cách hiểu thật thiếu tính thực tế. Ta không trách các em, đặc biệt các em sinh ra và lớn lên ở thành phố,thị xã bởi vốn sống thực tế của các em còn quá nghèo nàn mà hãy qua các giờ văn kéo gần các em trở về với  cuộc sống  hơn.

          Tín hiệu thứ hai của thu là  “ làn gió se”. Một thứ gió quen thuộc, đặc trưng của mùa thu. Thứ gió này đã đi vào thơ ca như nỗi ám ảnh đến ngàn đời.

                        “ Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”

                                                                    ( Nguyễn Khuyến)

             Dấu hiệu thứ ba của giây phút thu sang là làn sương thu:

“ Sương chùng chình qua ngõ”.

          Từ “ chùng chình” vốn là một từ láy tượng hình, nó diễn tả sự dùng dằng, dềnh dàng. Bằng cách dùng từ láy này, câu thơ đã thực hiện phép nhân hóa, phép nhân hóa khiến sương thu một vật vô tri vô giác trở nên có tâm hồn. Sương thu ngập ngừng luyến tiếc không nỡ rời xa mùa hạ mà chưa thực sự dám bước  chân hẳn sang mùa thu. Và nếu hiểu như thế thì từ “ ngõ” ở đây đâu chỉ là không gian của ngõ nhỏ ở mỗi làng quê mà còn là ngõ của thời gian từ hạ sang thu.

          Những tín hiệu sang thu đó được cảm nhận từ trái tim đa cảm của thi nhân.Từ “bỗng’ xuất hiện đầu bài thơ như một phát hiện độc đáo của thi nhân. Thu đến bất ngờ không hẹn trước, trái tim nhà thơ  ngạc nhiên đến sững sờ, xao xuyến:

                              “ Bỗng nhận ra hương ổi”

           Niềm rung động trước khoảnh khắc thiên nhiên giao mùa đâu phải lần đầu tiên xuất hiện trong thơ ca . Xưa, vị vua, nhà thi sĩ đa tình Trần Nhân Tông đã viết:

                        “ Ngủ dậy ngỏ song mây

                          Xuân về vẫn chửa hay

                           Song song đôi bướm trắng

                           Phấp phới sấn hoa bay”

Hay Nguyễn Trãi từng viết trong một bài thơ:

                           “ Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn

                               Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan”

          Giây phút chuyển mùa , đất trời cùng vạn vật như thay sắc. Cho nên thu đến thật rồi mà lòng người vẫn băn khoăn tự hỏi: “ Hình như thu đã về”.   Hình như là một tình thái từ, nó giống nghĩa của từ: “ Dường như” “ có lẽ” nó diễn tả những cảm xúc mong manh mơ hồ của thi sĩ trước giây phút sang thu. Từ “ về” ở cuối khổ thơ có thể thay bằng từ đồng nghĩa “ đến” “ sang” “ tới”. Nhưng có lẽ từ “về” được dùng trong khổ thơ  là hay hơn cả . Bởi từ “về” nó chứa đựng nét nghĩa sự quay trở lại, sự mong đón của lòng người với mùa thu. Mùa thu như người thân đi xa lâu ngày nay mới trở lại.

          Ở khổ thơ thứ hai dấu hiệu mùa thu trở nên rõ rệt hơn và không gian mùa thu cũng trở nên rộng hơn, khác hơn.

          Nét vẽ đầu tiên về mùa thu ở khổ thơ thứ hai là hình ảnh “ sông thu”. Đọc trang văn của cụ Nguyễn khi miêu tả con sông Đà “ Vào mùa thu, nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt của người bầm đi vì rượu bữa hoặc bực bội bất mãn mỗi độ thu về’’ lòng ta đã  thầm yêu một dòng sông ta chưa từng qua mà lòng đã thương , đã mến đến muôn đời. Bằng  sự quan sát tinh tế, Hữu Thỉnh đã ghi lại vẻ đẹp  của dòng  sông quê vào mùa thu. Đã qua rồi mùa lũ, con sông như chảy chậm lại, dềnh dàng hơn. Một lần nữa phép nhân hóa lại được Hữu Thỉnh sử dụng trong câu thơ:

                                       “ Sông được lúc dềnh dàng”

          Dòng sông như con người đi qua mùa lũ, đi qua những năm tháng gian lao giờ trở nên bình thản hơn. Bất giác ta nhớ đến những câu thơ của Thi Hoàng viết về dòng sông thu:

                                               “ Sen tàn mướp cũng đi tu

                                            Gió thu đã thổi một trời heo may

                                                  Con sông không ốm mà gầy

                                             Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn….”

          Tương phản với dòng sông thu là những cánh chim thu.Viết về cánh chim mùa thu không phải là nét mới trong thi ca. Bởi lẽ trước Hữu Thỉnh nhiều nhà thơ đã viết về hình ảnh quen thuộc này:

                                    “ Mây vẩn từng không chim bay đi”( Xuân Diệu)

  Hay: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

              Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa..” ( Huy Cận)

          Nhưng có lẽ, cái tinh tế, sự mới mẻ  trong sự cảm nhận của nhà thơ là nét phát hiện về sự“ bắt đầu vội vã” . Hình như cánh chim cũng cảm nhận được khí lạnh của mùa thu đang dần đến mà vội vã cho hành trình về miền đất ấm tránh rét. Mới chỉ là dự cảm, bởi tất cả mới chỉ là “ sự bắt đầu”. Nếu không yêu quê hương bằng một tình yêu đến máu thịt dễ gì nhà thơ có những quan sát tỉ mỉ, có những cảm nhận tinh tế đến thế.

          Mây mùa thu là niềm da diết trong thơ tự ngàn xưa. Đó là sắc xanh nhức nhối đến ngàn đời trong thơ Nguyễn Khuyến, là sắc xanh trong thơ của Tạ Hữu Yên “ Bầu trời xanh ngắt xanh không tưởng

Hay “   Tháng tám trời thu xanh thắm

            Mây nhởn nhơ bay

           Hôm nay  ngày đẹp lắm”

                            ( Tố Hữu)

             Tuy nhiên, trong “ Sang thu”, Hữu Thỉnh không hề nhắc đến  sắc màu của mây  trời. Nét độc đáo mà nhà thơ muốn đem đến người đọc là đám mây mùa thu:

                            Có đám mây mùa hạ

                               Vắt nửa mình sang thu..

          Trên là làn sương thu ngập ngừng, bịn rịn. Giờ đây là đám mây, mây chưa hẳn là của mùa thu. Mây vẫn là mây mùa hạ nhưng bằng sự liên tưởng hết sức độc đáo, hết sức lãng mạn, nhà thơ đã tưởng tượng ra đám mây như một dải lụa treo trên bầu trời.

          Ranh giới nửa nghiêng về mùa hạ, nửa nghiêng về mùa thu. Từ “ vắt “ đứng đầu câu thơ giúp ta hình dung nét quyến rũ, mềm mại, uyển chuyển của đám mây. Hình ảnh mây là thực nhưng cái ranh giới mùa là hư. Nó chỉ là sản phẩm kỳ diệu của trí tưởng tượng của nhà thơ. Đất trời làm một cuộc chuyển giao kỳ diệu. Hạ nồng nàn, sôi nổi đã nhường chỗ cho thu e ấp, dịu dàng đầy nữ tính. Tất cả điều đó được tác giả cảm nhận bằng một tâm hồn rung động tinh tế, giàu tình yêu thiên nhiên. Những tâm hồn giàu tình yêu cuộc sống như thế đâu có hiếm :

                             “ Nghe trời  trở gió heo may

                             Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau..”  ( Trần Đăng Khoa)

          Nếu ở khổ thứ nhất nét cảm xúc ngạc nhiên, ngỡ ngàng là âm hưởng chủ đạo thì ở khổ thơ này cảm xúc đó dường như đã mất đi nhường chỗ cho niềm vui, sự xúc động ngây ngất khi được đón nhận thu về. Có người cho rằng chỉ với hai khổ thơ trên ‘sang thu” đã được xếp bài thơ vào những áng thơ hay nhất viết về mùa thu rồi. Khổ thơ thứ ba là một khổ thơ dôi, nó làm loãng những gì đã có. Thực ra đó chỉ là một cảm giác. Hai khổ thơ trên rất đẹp về tạo hình, rất tình trong cảm nhận, như hai cành biếc của một cây thơ lạ. Nhưng khổ thơ thứ ba là cái gốc của cây thơ đó, là nơi cho hai nhánh thơ trên tựa vào nhau, khoe sắc, tỏa hương. Khổ thơ thứ ba mang đến cho bài thơ một nét đẹp mới, làm trọn vẹn thêm cho cái ý “ sang thu” của hồn người chưa thật rõ trong khổ thơ trên.

          Sang khổ thơ thứ ba, nhà thơ vẫn tiếp tục khắc họa bức tranh thiên nhiên vào thời điểm đất trời sang thu: “Vẫn còn bao nhiêu nắng

                               Đã vơi dần cơn mưa

                               Sấm cũng bớt bất ngờ

                               Trên hàng cây đứng tuổi

          Khổ thơ tiếp tục điểm thêm những nét vẽ để hoàn chỉnh bức tranh thu. Đầu tiên là nắng thu, nhà thơ không miêu tả cụ thể mà chỉ miêu tả bằng ấn tượng:

          “ Vẫn còn bao nhiêu nắng” , đúng là như vậy, vào mùa thu nắng vẫn còn nhiều, nắng đủ sức làm trái bưởi thêm chín vàng   Nắng tháng tám rám trái bòng”.

          Bằng vốn sống thực tế của mình, nhà thơ đã viết thật đúng về mùa thu. Nắng thu vẫn còn nhiều nhưng mưa thu đã bớt dần. Những cơn mưa mùa thu không còn thường xuyên, liên tục như mưa mùa hạ nữa mà đã thưa thớt hơn. Có thể nói một cách hình ảnh mưa thu đã là cầu nối bắc từ mùa thu sang mùa đông. Bằng phép liệt kê, nhà thơ đã kể ra một trường từ vựng có liên quan đến thời tiết: nắng, mưa, sấm…nhưng “ mức độ” đã khác lắm rồi.       Đâu phải ngẫu nhiên mà cụm từ “ Hàng cây đứng tuổi” đứng vào chỗ kết thúc của bài thơ, vốn là một vị trí cực kỳ quan trọng. Phải chăng cái “đứng tuổi” của hàng cây là một điểm nhấn quan trọng để ta mở sang một thế giới khác, thế giới sang thu của hồn người? Viết bài thơ này, Hữu Thỉnh đang vào độ tuổi 40, là thế hệ  vừa đi qua những năm tháng chiến tranh, cho nên phải chăng hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” chính là ẩn dụ cho con người? Con người đã đi qua thời thanh niên sôi nổi, bồng bột, bỗng một ngày giật mình thấy mái tóc pha sương “ quên cả vừng trăng, lạc cả mùa” (Tô Hà).

          Sang thu, con người trở nên sâu sắc hơn, chín chắn hơn. Và vì thế “sấm” âm thanh quen thuộc của mùa hạ, nhưng hiểu theo nghĩa ẩn dụ là những vang động bất ngờ của ngoại cảnh không còn “bất ngờ” nữa. Sau những thăng trầm của cuộc sống, sau những lo toan của cuộc đời, sau bao nhiêu thử thách, con người bây giờ trở nên bình thản, già dặn hơn, từng trải hơn để đón nhận  trong những biến động của cuộc  đời.

          Thiên nhiên sang thu chủ yếu là lắng lại, chừng mực, đúng mức. Con người cũng vậy. Nhưng có điều khi sang thu, con người trở nên sâu sắc thêm, chín chắn thêm, thâm trầm, điềm đạm thêm. Mặt khác, sang thu cũng là lúc, con người ta phải gấp gáp hơn, khẩn trương hơn  “Mau lên chứ! Vội vàng lên với chứ”( Xuân Diệu)  thành ra cái “ vội vã” của bầy chim cũng là cái vội vã của đời người. Vì thế nhan đề  của bài thơ chỉ có thể là “ sang thu” mà không thể là thu về, thu đến, thu tới…..Thiên nhiên sang thu như vừa bao trùm vừa thấm vào tạo vật. Hương quả sang thu, ngọn gió sang thu, màn sương sang thu…..dòng sông, cánh chim, bầu trời, đám mây… tất cả đều đã sang thu. Tuy nhiên đó không chỉ là sự sang thu của thiên nhiên mà còn là sự sang thu của đời người. Con người và thiên nhiên như hòa một nhịp cùng sang thu. Sự sang thu của đất trời cùng với sự sang thu của lòng người như cùng gặp nhau ở đây.

          Bài thơ đã khép lại, nhưng lại mở ra ở lòng người những dự cảm sâu sắc về giây phút sang thu của cuộc đời. Đừng đọc bài thơ này vào lúc vội, hãy đắm chìm trong thế giới ngôn từ, hãy chiêm nghiệm để rồi bất ngờ nhận ra một điều gì rất sâu lắng. Đọc thơ cũng như gọt trái cây, có quả rất dễ gọt, có quả rất cầu kỳ không dễ gì mà cảm nhận được bề sâu của nó. Sang thu là loại trái thứ hai đó. Ai đó đọc bài thơ lần đầu đặc biệt đọc  khi còn ít tuổi chưa dễ gì đã  cảm nhận được hết ý nghĩa của bài thơ. Ai đó đọc bài thơ này nhiều lần, ở mỗi thời điểm đọc, ở mỗi lứa tuổi khác nhau lại có những cảm nhận khác nhau, những cảm nhận ngày càng thú vị, càng bất ngờ hơn.  Và vì thế bài thơ vẫn là sự hấp dẫn độc giả đến muôn đời.

 Trần Thị Hải Vân- THCS & THPT Hai Bà Trưng

Các tin khác
Tin nổi bật
Thống kê truy cập
7
Hôm nay3
Hôm qua1855
Tuần này1858
Tháng này21544
Tất cả1405975